Một xem tính giá thành như hình thức lắp đặt dịch vụ

+Mua NVL: Nợ 152,1331/ Có 331
+SX lắp đặt: Nợ 621/ Có 152
+Nhân công gia công, lắp đặt: Nợ 622/ Có 334
+SXC gia công, lắp đặt: Nợ 627/ Có 242,214…..
= > Giá thành: Nợ TK 154/ Có 621,622,627
 
 
-Ưu điểm: tính được chi tiết giá thành lãi lỗ chi phí thực của mỗi đơn hàng, hợp đồng
-Nhược : tính toán phức tạp phải theo dõi chi tiết nhiều, phải tính toán giá thành nếu kế toán yếu sẽ cực
Hai xem là hình thức thương mại hóa
+Mua NVL, HH: Nợ 156,1331/ Có 331
+Xuất bán, dùng SX lắp đặt: Nợ 632/ Có 156
+Nhân công gia công xem như chi phí nhân viên bán hàng, bảo trì, bảo dưỡng: Nợ 641/ Có 334
+Chi phí phân bổ SXC khác đều xem là chi phí bán hàng: Nợ 641/ Có 242,214…..
 
-Ưu điểm:  không phải tính toán giá thành, về mặt thuế thì ok, về mặt quản trị nội bộ thì ko chuẩn , nhanh gọn nhẹ dễ làm , dễ chơi
-Nhược: ko theo dõi đúng được lãi lõ đơn hàng, quản trị nội bộ ko chuẩn, nếu nhờ một người có kiến thức chút xem sổ sách chắc chắn sẽ phán kế toán ko biết làm , phán làm sai này nọ, linh tinh…..khác nói chung sẽ chê kế toán đó dở ko biết làm với cấp trên hạ thấp kẻ khác để tự tôn mình lên là cách của số đông vẫn làm

= > Về mặt thuế má dù đưa vào 152,156,154 đều không quan tâm  vì dù đưa vào đâu nó đều chạy về 4212, chỉ quan tâm vấn đề tương quan 632 với 511 có phù hợp

 

 

Các bài viết mới

Các tin cũ hơn