Theo ông Nguyễn Tất Thao, Phó trưởng Ban Thu (Bảo hiểm xã hội VN), công thức tính mức chi phí tham gia BHYT dựa nhiều vào “nền” tiền lương cơ sở, do đó khi có sự điều chỉnh tăng, các yếu tố liên quan tới điều chỉnh theo.

 
Với trường hợp chi phí 1 lần khám chữa bệnh của chủ thẻ BHYT thấp hơn 15% lương cơ sở, mức chi trả 100% kinh phí khám chữa bệnh đối với chủ thẻ BHYT cũng được tăng từ 208.500 đồng lên 223.500 đồng.
 
Thay đổi tiếp theo là khi chi phí khám chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở để làm căn cứ xác định đủ điều kiện không phải cùng chi trả khi có thời gian tham gia BHYT đủ 5 năm sẽ tăng từ 8.340.000 lên 8.640.000 đồng.
Mức thanh toán tổng chi phí vật tư y tế cho 1 lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật, một số đối tượng sẽ được hưởng không vượt quá 45 tháng lương cơ sở sẽ tăng từ 62.550.000 lên 67.550.000 đồng.
 
Bên cạnh đó, mức thanh toán trực tiếp khi chủ thẻ BHYT đi khám chữa bệnh tại các cơ sở không ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT hoặc đi khám chữa bệnh tại cơ sở đăng ký khám chữa bệnh ban đầu ghi trên thẻ BHYT nhưng không đầy đủ thủ tục, như sau: 0,15 lần mức lương cơ sở tăng từ 208.500 đồng lên 223.500 đồng; 0,5 lần mức lương cơ sở tăng từ 695.000 đồng lên 745.000 đồng; 1 lần mức lương cơ sở tăng từ 1.390.000 đồng lên 1.490.500 đồng; 2,5 lần mức lương cơ sở tăng từ 3.475.000 đồng lên 3.725.500 đồng.
 

Cũng từ 1/7, mức đóng BHYT cũng thay đổi ở một số nhóm đối tượng:

 
Đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã: 4.5% x 1.490.000 =  67.050 đồng/tháng.
 
Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất: 8% x 1.490.000 =  119.200 đồng/tháng.
 
Mức trần lương cao nhất đóng BHYT = 1.490.000 x 20 lần = 29.800.000 đồng.
 
Hệ số tính giá thẻ BHYT của người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định sẽ được tính theo công thức: “Tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) x 1.490.000 đồng x 4,5%”.

Các bài viết mới

Các tin cũ hơn